Nghiên cứu và hình thành các loại hình y tế

Hơn nữa người cán bộ y tế với thu nhập hiện nay (bình quân 280 000 đ/người/tháng) Cũng thuộc diện những người thu nhập thấp trong CBCNVC nhà nước.
– Cần phải giải quyết một cách đồng bộ giữ y học dân tộc cổ truyền với y hoc hiện đại. giữa công tác vệ sinh phòng dịch, chăm sóc sức khóe ban đầu với việc xây dựng trung tâm y tế chuyên sâu
– Giải quyết một cách hợp lý và lâu dài giữa việc xác định nhu cầu. tổ chức đào tạo vè sứ dụng lực lượng cán bộ y tế nhằm khắc phục tình trạng thiếu bác sĩ ở cơ sở nhất là ở vùng xa, vùng sâu, miền núi, hải đảo . cân đối giữa cán bộ y và dược. giữa bác sĩ, dược sĩ và y tá điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên…
• Nghiên cứu và hình thành các loại hình y tế: trong mạng lưới khám chữa bệnh phù hợp với đặc điểm chung của cả nước cũng như những đặc điểm riêng của từng nước
• Kết hợp chặt chẽ quân dân y cũng như các ngành khác như-Thương binh xã hội. Chăm sóc tốt sức khỏe nhân dân. Dân số kế hoạch hóa gia đình trong các hoat động của ngành y tế nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp. phát huy hiệu quả đầu tư.
Trước mắt cần tập trung triển khai các mặt công tác trọng tâm như sau
■ Không ngừng nâng cao chất lirựng khám chữa bệnh (từ bệnh viện Trung ương. Tỉnh. Huyện. Trạm y tế xã đến y tế thôn bàn ). Trong các CCT YT khám chữa bệnh phải quan tâm đúng mức đến việc thực hiện các chế độ điều trị tích cực với các phương án như ăn mặc, vệ sinh cho người bệnh cần quan tâm đến các mô hình bệnh viện có đầy đủ các khu vực cho người bệnh một cách hợp phí. bảo hiểm y tế. Thu phí (theo quy định Ht’31 theo nhu cầu) đều được hưởng sự chăm sóc và thát độ phục vụ như nhau.
– Cần chấn chỉnh và xây dựng các tuyến. Phấn đấu đến năm 1996, sẽ xóa toàn bộ xã trắng.
– Đào tạo mới và đào tạo lại cán bộ y tế kể cả y tá diều dưỡng : chú ý đào tạo bác sĩ cộng đồng.
– Quan tâm đúng mức đến lợi ích chính đáng và hợp pháp của cán bộ công nhân viên chức trong ngành y tế.
Trong dịp này. lãnh đạo của tỉnh, Bộ y tế sẽ góp phần cùng tỉnh Tuyên Quang phối hợp để nâng cấp cơ sỡ cho bệnh viện ATK. bổ sung một số trang thiết bi y tế cho bệnh viện huyện Sơn Dương và một số mặt khác trong công tác bào vệ sức khóe nhân dân trong tinh.
Đoàn bày lò lòng cám ơn sâu sắc vè tình cảm chân thành của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh úy, ủy ban, các Ban, Ngành của tinh, huyện xã mà đoàn đã đến nghiên cứu, làm việc. Chúng ta tin tường rằng với sự nỗ lực chung, công tác chăm sóc và báo vệ sức khỏe nhân dân của tỉnh Tuyên Quang I một tình căn cứ và giàu truyền thống Cách mạng – sẽ tiếp tục giành được nhiều thành tựu mới góp phần xứng đặng .vào sự -nghiệp đôi mái.cua Đáng, nhằm thụt: hiện mục tiêu dàn giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
BS LÂM ĐỨC HÙNG

Continue reading Nghiên cứu và hình thành các loại hình y tế

Bộ trưởng Bộ Y tế đến để thăm và làm việc tại tỉnh Tuyên Quang

Từ ngày 22 – 24 12 1995, PGS Đỗ Nguyễn Phương. Bộ trưởng Bộ Y tế đến để thăm và
làm việc tại tỉnh Tuyên Quang đồng chí Hà Thị Khiết, ủy viên Trung ương trong Đảng, Bỉ thư tình uy kiêm Chú tịch Hội đồng nhân dân tính . đồng chí Vũ Tiếp. Phó bí thư tỉnh ủy ; đồng chí Trần Trung Nhái-Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh . đồng chí Nguyễn Ngọc Thanh, phó chú tịch ủy nhân dân tỉnh; đồng chí Hồ Đức Hiệu. Giám đốc Sở y tế cấp tỉnh – cùng các đồng chí Phó giám đốc Sở, giám đốc các cơ quan trực thuộc Sớ đơn vị tiếp và làm việc với đoàn thanh tra trung ương.
– Trong thời gian công tác. đồng chí H luôn luôn đã dành nhiều thời giờ tiếp xúc, trao đổi với các đồng chí cán bộ lãnh đạo chủ chốt  của lính Tuyên Quang, huyện Sơn Dương và 9 các xã mà đoàn đã đến. Đồng chí Bộ trưởng HGĐ đã đặc biệt quan tâm tiếp xúc với cán bộ y tế ở cơ sở. các em học sinh lớp y tá phân ban cua huyện 9 tầm Sơn Dương để tìm hiểu nguyện vọng, kha năng thành và hiệu quả trỉển khai việc đào tạo cần bộ y le im kỹ thôn bản của tỉnh Tại cuộc gập mặt các cán bộ chú chốt cua y té tinh Tuyên Quang, Đồng chí Bộ trưởng Bộ Y tế đã nêu lên các quan điểm cơ bản của Nghị quyết Trung ương trang IV về công tác Y tế là – Con người là vốn quí nhất, sức khỏe là vốn quí nhất của con người Công tác chăm sóc và báo vệ sức khỏe nhân dân phái dành cho mọi người mà trước hết phải ưu tiên dành cho người nghèo, cho đồng bào các dân tộc và người có công với Cách mạng, cho vùng xa xôi nghèo, vùng căn cứ Cách mạng.
– Phòng bệnh và chữa bệnh có mối quan hệ hết sức gắn bố vói nhau tác động thức đẩy lẫn nhau mà vai trò cùa y tế cơ sớ – đặc biệt là các y tế thôn bản, y tế gần dãn nhất – có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
– Kế thừa, phát huy Y học cổ truyền dân tộc đồng thời với việc liếp thụ nền y học hiện đại, xảy dựng một nền y học của ta như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm cho nền y học nước nhà thực hiện được phương* châm dân tộc, khoa học, đại chúng.
– Cần phái Xã hội hóa công tác y ré trong các mặt hoạt động của ngành (trong đó cần chú ý đến lực lượng Quân y, Biên Phòng. Công an… trên địa bàn).
* Cần phải đa dạng hóa các hoạt động y tế phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế xã hội theo cơ chế thị trường có định hướng
– Xã hội chú nghĩa do Nhà nước quán lý.
– Ngành y tế cần quan tâm đến những thách thức, những mâu thuẫn, đó là :
– Nền kinh tế thi trường và tính nhân đạo của ngành.
– Yêu cầu về nâng cao chất lượng, hiện đại hóa, chính quy hóa đối với ngành y tế với
khá năng đầu tự…
– Yêu cầu trách nhiệm cao đối vợi cán bộ công nhân viên chức cúa ngành trong việc
phục vụ sức khóe nhân dân và mức độ đăi ngộ. lợi ích của anh chị em chưa thỏa đáng.

Continue reading Bộ trưởng Bộ Y tế đến để thăm và làm việc tại tỉnh Tuyên Quang

Hệ thực hành

KHHGB ti chức thành tập ban DS KHHGB cấp
(BV11- Phân viện báo chí TT)
Nét đặc thù… (Tiếp theo trang 3)
người thẩy thuốc, cụ thể là bác sĩ (tiến sĩ y khoa). Ngoài nhiệm vụ dào tạo ra các cán bộ giảng dạy thuộc hệ dào tạo, ngành y còn có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là đào tạo các thầy thuốc thực hành giỏi (bác sĩ chuyên khoa) thuộc hệ thực hành.
A – Hệ giảng dạy: Hình dung dơn giản như sau:
1-Tiến sĩ y khoa (bác sĩ).
Thạc sĩ y khoa _ Giáo sư, Phó giáo sư (dạy đại học y)
Nếu so sánh với ngành khoa học khác, có điểm khác :
Cử nhân
Thạc sĩ — GS thạc sĩ (dạy trung học)
Tiến sĩ___ GS dạy đại học
Như vậy ngành y dào tạo tiến sĩ trước, ,thi thạc .sĩ sau, còn ngành khác thi thạc sĩ trước, tiến sĩ sau.
B – Hệ thực hành. Hình dung đơn giản như sau :
Tiến sĩ y khoa (bác sĩ)
Bác sĩ đa khoa (mẻdecin gẻnéralist©)
Bác sĩ chuyên khoa (médecin specialiste) (nội trú, chuyên khoa I, chuyên ktìoa II).
Như vậy, rõ ràng có 2 hệ riêng biệt, không thê hội nhập hệ nọ vào hệ kia, nhất là y học là một khoa học thực hành, phải rất coi trọng khâu thực hành nếu muốn có thầy thuốc giỏi.
Tuy nhiên theo thiển ý, nên gọi thống nhất và đơn giản hóa chức danh, không nên phân quá nhiều cấp bậc sẽ rôi rắm, là một tật của “tư duy hành chính”. -Ví dụ nên gọi thạc sĩ không nên gọi là -cao học nữa, tiến sĩ, phó tiên sỉ nên gọi chung là tiến sĩ và chì có một bậc thôi.,Nội trú, bác sĩ chuyên khoa câp ỉ, bác sĩ chuyên khoa cắp II, chỉ nên đê 2 từ : nội trú và bác sĩ chuyên khoa là đủ.
Tất nhiên ngoài thầy thuốc ra, ngành y tế còn rất nhiều loại hình cán bộ khác, hoặc trợ lý y tế trình độ đại học và trung học, ví như chuyên gia X quang, cử nhản sinh hóa, chuyên gia y tế cộng đông , điêu dưỡng, nữ hộ sinh… chứ không nhât thiêt gọi chung các cản bộ đại học ngành y tế là bác sT.
Trên đây là mấy suy nghĩ cá nhân, mong dược bạn đọc góp ý cho những điểm còn thô thiên hoặc sai lầm.
PGS. Đỗ NGUYỀN PHƯƠNG…

Continue reading Hệ thực hành

Nét đặc thù của công tác đào tạo y khoa bậc đại học

Nét đặc thù của công tác đào tạo y khoa bậc đại học
THANH TÙNG
Ngành giáo dục dang thực hiện nâng cao chất lượng giáo dục bậc phổ thông với việc phân ban từ lớp 10. Đó là cơ sở tốt để nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học. Tuy nhiên, công tác đào tạo Y khoa có nhiều nét đặc thù cần được quán triệt trong cải cách giáo dục bậc đại học.
I – Y học nhân văn là điều thể hiện rõ nét nhất. Có lẽ Y học là ngành duy nhất còn có giáo dục đạo đức ở bậc dại học với bộ môn rất quan trọng là y đức học (dẻontologie).
Đặc thù ngành y là tài dức gắn với nhau làm một, khi ta nói “lương y” hoặc tiếng Pháp “bon médecin” thì vừa có nghĩa là thầy thuốc giỏi, vừa có nghĩa là thầy thuốc có lương tâm, đức độ.
Cho nên ngành y dược tiếng là ngành nhân đạo, vào ngành với lòng vị tha yêu nghề chứ không ai muốn làm giàu lại đi chọn ngành y tế.
II – Y học là khoa học thực hành, trực tiếp bảo vệ sức khỏe và sinh mạng con người. Vì thế đức tính hàng dầụ củạ người thầy thuốc phải là -lòng nhân ái vị tha, sự ham học’hỏi, tính thận trọng, khiêm tốn, lòng kiên nhẫn và sự trung thực.
1 – Thảm niên trong nghề cũng là một thước do tài năng “thầy già, ca sĩ trẻ; khác với các ngành khoa học lý thuyết. đối với ngành y càng lâu năm tích lũy dược nhiều kinh nghiệm, càng giỏi.
2 – Học đi đôi với hành, trường đại học y luôn phải gắn liền với một bệnh viện thực hành, công tác đào,tạo mới dạt hiệu quả cao. Mô hình viện trường (CHU) của Pháp là một mô hình tốt, cần củng cố và phát triển mô hình này hơn là xóa bỏ nó đi.
3 – Đào tạo bác sĩ chuyên khoa (mẻdecin spéóalìté) là tối cần thiết. Tây âu và hầu hết các nước đều coi trọng đào tạo bác sĩ chuyên khoa vì tinh hiệu quả cao và là thước do chất lượng nền y học.
Ra trường là bác sĩ đa khoa, sau một số năm hành nghề có thể học và thi lên bác sĩ chuyên khoa trên cơ sơ “biết nhiều, giỏi một”, không nên ra trường dã đi chuyên khoa ngay kiên thức sẽ phiến diện.
III -Sơ đồ đào tạo:
Theo khuynh hướng chung của thế gfỉới, nhân vật trung tám của ngành y là

Continue reading Nét đặc thù của công tác đào tạo y khoa bậc đại học

Công trình nghiên cứu làm tại Khoa da liễu trung ương

(Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề xung quanh “Một vụ chiếm đoạt…” ở báo Phụ nữ thủ dô số 42 và 49 đặt ra)
NGUYỄN CHÂN GIÁC:  Khi đọc những bài viết gửi dăng báo của DS Nguyễn Đức Thảo với nội dung tố cáo người thủ trưởng cũ tầm cỡ bậc thầy của mình có hành vi chiếm đoạt một công trình khoa học mà DS Thảo tự cho là của riêng minh, thì ngay từ lúc đó, trong số những người quen biết anh(1), cũng đã có một câu hỏi được đặt ra :
Không hiểu DS Thảo có biết rằng chính anh lại dang mắc phải một lỗi lầm mà anh đang lên án người khác là “trấn lột chất xám của đồng nghiệp một cách tinh vi có thủ thuật” hay không ? Hoặc giả có thể anh nghĩ rằng những người đá từng công tác với anh trong cùng một đom vị khi xưa, những người đã cùng anh tim tòi, sáng tạo đế làm ra một sản phẩm có ích cho ngành y tế với cái tồn ‘kháng nguyên VDRL từ cách đây hơn hai chục năm về trước, chắc là do lúc này cô lồ họ sẽ Không còn nhớ gì nữa chẳng bởi thế cho nên anh mới dám nói không chút ngượng ngùng rằng anh dã phai “vượt quạ bíết bao khổ khăn, nhiêu sự kim hãm, đã phải tự bỏ một phần tài sản của mình ra để nghiên cứu và bảo vệ đề tài này”.
Hãy cứ đi từ ngay những chứng cứ của anh đưa ra. Trong tập “Thông tin da liễu“ số 3-4 năm 1978, ở trang 48, DS Thảo đã viết:
”* Công trình nghiên cứu làm tại Khoa da liễu trung ương. Bác sĩ chủ nhiệm khoa Lê Kinh Duệ.
– Người thực hiện công trình : Nguyễn Đức Thảo – Hoàng Nguyệt cẩm – Hoàng Thị Hạnh và các cộng tác viên.
– Được sự giúp, đỡ và phối hợp cộng tác của : Tiến sĩ Trần Thị Ân, KS Nguyễn Sĩ Đắc, Bộ môn sinh hóa Trường Đại học y dược khoa Hà Nội; DS Lương Tấn Thành, Phòng sinh hỏa Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội; BS Vũ Bình Lập, DS Ngô Thiêu Dăng, Bệnh viện da liễu thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy cũng đủ thấy rằng ngay từ năm 1978,
DS Thảo đã thừa nhặn và khăng định cống trinh nghiên cứu đó được tiến hành tại một cơ quan nhà nước (chứ không phải cơ nhà riêng), và tác gia công trình này là một tập thể (ít nhất cũng có 3 người dứng tốn). Thồ mà & thời diếm 25 năm sau, như bản kết luận của Đoàn Thanh tra Bộ y tế đã nêu : “ngày 27-10-1993, DS Thảo đã đi đăng ký quyên ! tác giá về công trình trên nhưng đã không đăng ký.

Continue reading Công trình nghiên cứu làm tại Khoa da liễu trung ương

Đại hội đồng LHQ

Ngày thành lập UNICEF (11-12-1946 và11-12-1996)-Thời gian đáng ghi nhớ
em. Đại hội đồng LHQ chỉ định ỤNICEF ca quan đầu mốỉ trong hệ thống LHQ, phối hợp các hành động của năm.
Năm 1982:
UNICEP phát động cách mạng vè sự sống còn và sự phát triển cua trẻ em để làm giảm tỷ lệ chết cao của trẻ em bằng những kỹ thuật giá thanh thấp như cho bú bằng sửa mẹ, tiêm chủng, trị liệu bu mất nước bằng đường uống.
Năm 1989:
Đại hội đồng LHQ thông qua Công ước về Quyền trẻ em – một hiến pháp cơ bản cho trẻ em trên thế, giới. Năm sau, Còng ước trả thành luật quốc tế.
Nầm 1990:
Những vấn đề của trẻ em đạt đỉnh cao trong chương trình nghị sự quốc tế  Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em họp ở New York, noi các đại biểu của hơn 150 nước, bao gôm 71 nguyên thủ
quốc gia và người đứng đầu chính phủ có một sự cam kết đặc biệt đối với sự sống còn và phát triển của trẻ em. Hộỉ nghị dá thòng qua Tuyên bố thế giới và chương trình hành động bao gồm 7 mục tiêu chính và 20 mục tiêu phụ đối với trè em cho năm 2000.
Năm 1995:
Hơn một trăm nưró đã thông qua các kế hoạch hành động quốc gia, để thực hiện những mục tiêu của Hội nghị cắp cao thế giới về trẻ em và thực hiện Công ước về Quyền trẻ em. Với 179 nước phê chuẩn (tỉnh đến cuối tháng 9-1995). Công ước là một văn kiện vê nhân quyên được chấp nhận nhanh nhắt trong lịch sử, được phê chuẩn rộng rãi và sớm nhất.

Continue reading Đại hội đồng LHQ

Tiến tới kỷ niệm 50 năm ngày UNICEF

Tiến tới kỷ niệm 50 năm ngày UNICEF
Ngày 11-12,. theo quyết định khóa họp thứ nhất của Đại hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ), UNICEF đựợc thành lập. Những chương trình hoạt động đầu tiên của UNICEF lạ cửu trợ khẩn cấp cho tre em sau chiên tranh thế giới thứ hai ở châu Âu, Trung Cận Đông và Trung Quổc.
Nam 1953:
UNICEF trở thành một bộ phận thường trực cùa LHQ với vai trò mờ rộng va đáp ứng những yêu cầu lâu dài của trẻ em song trong điều kiện nghèo khổ cr các nước đang phát triển. Trọng tâm hoạt động của thập kỷ nàỵ là kiểm soát hoặc thanh toán nhimg bệnh như ghe cóc, mắt hột và lao.
Năm 1954:
Ông Đen-ni Ke đưgnc chỉ định làm Đại sứ đặc mệnh đẩu tiên của UNICEF. Nhiệm vụ của ông Ịà thông báo cho toàn thế giới biết những nhu càu cua tre em trên thế giới.
Năm 1955:
UNICEF tham gia vào chiên dịch toàn thi giới loại trứ bệnh sốt rét – một căn bệnh là nguyên nhân chính dẫn dển tử vong ở trẻ em do WHO tiến hành. Mặc dù chưa đạt được mục tiêụ đề ra, nhưng chiến dịch đã cứu sinh mạng của rất nhiều trẻ em.
Năm 1959:
Đại hội đồng LHQ thông qua Tuyên bọ vè Quyền trè em -tiền thân của Công ước Quyên trẻ em năm 1989.
Năm 1965:
UNICEF nhận giải thưởng Nô-ben về hòa bình ở Ô-xlô về những hoạt động của mình * dố là những hoạt độna không biên giới, đem sự cứu trqr dèn cho tât ca trẻ em không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, quốc tịch hay nhặn thức chính trị.
Năm 1979:
Năm quốc tế trẻ em : Các hoạt động cua toàn cầu ỉặp trung vào giải quyết các nhu cầu cho trẻ
em
QUỸ nhi đồng cùa Liên hiệp quốc (UNICEF) như mộ! Quỹ viện trợ khẩn cắp cho trẻ em sau chiến tranh (nhầm giúp đở trẻ em bị đói nghèo, bệnh tật), dể tiên tới kỷ niệm 50 nãm Ngày thành lập (11 12 1946 – 11-12-1996), UNICEF đã đưa ra một chương trình chống chiến tranh gồm 10 điểm, đồng thời kêu gọi chính phủ, nhân dân các nước, trong đó có Việt Nam, tích cực hưởng ứng tham gia thực hiện chương trình này.
Nói về các thành tụy lớn trong những nảm qua, UNICEF nhấn mạnh
Trong lĩnh vực y tế, tỷ lệ từ vong trè em trên thế giới dã giảm từ 22’6 xuông 100 trên 1.000 em. Việt Nam tiêp tục là nirớc đứng đâu vê thành tích này theo lổng thu nhập quốc dằn (GNP) trên một đầu người. Tỷ lệ tiêm chủng trên thế giới dạt trên 80%, nước ta đạt 94,4% (năm 1994). Bệnh bại liệt diKỊTc thanh toán nhiều nơi; trong đó nước ta có nhiều triển vọng thực hiện được mục tiêu này.
Về dinh dưỡng; Nước tạ đạt được tiến bộ đáng kể trong việc sử dụng muối i ốt, là nước thứ hai trên thế giới công bố đã thanh toán bệnh mù lòa do thiếu vitamin A. Việc nuôi con bằng sữa mẹ ngày

Continue reading Tiến tới kỷ niệm 50 năm ngày UNICEF

Số giường thu phí cao do bệnh nhân yêu cầu

BT: 6 tháng sắp tới, chứng ta phải đẩy mạnh công tác bệnh viện, trước mắt phải thay đổi bộ mặt các bệnh viện từ trung ương và các bệnh viện ở các tỉnh Ở miền Bắc trọng tâm trước mắt là Bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức và Bệnh viện Hữu Nghị. Nhân dịp kỷ niệm Ngày thầy thuốc Việt Nam 27-2 sắp tới chúng ta có Hội nghị trao đổi về vấn đề này. Tôi cũng đã xin phép Ban bỉ thư mời các đồng chí lãnh đạc các tỉnh cùng dự. Đây là vấn đề lãnh đạo Đảng, Nhà nước rất quan tâm, Quốc hội cũng thảo luận nhiều. Bệnh viện là bộ mặt cua ngành y tế. là nơi biểu hiện cụ thể quán điểm đối với người nghèo. Đối với các bệnh lao lại càng như thế vì ngay cả người giàu bị lao rồi cũng thành nghèo. Phải giải quyết tốt đẹp quan hệ giữa thu phí và miễn phí thái độ đối với thu phí, bảo hiểm ỵ tế, miễn phí. Chấp nhận trong bệnh viện có một số giường thu phí cao do bệnh nhân yêu cầu. Ở thành;phố Hồ Chí Minh’ đã tổ chức có giường bệnh thu phí cao 300.000 thặm chí 500.000 đồng/ngày. Bệnh viện Thống Nhất cũng có 100 giường thu phí. Ngay cả bệnh viện miên phí An Bình có 400 giường miễn phí cũng có 100 giường thu phí 120.000 đong/ngày. Miên Bàc tâm iy quen được bao cấp nén chưa quen với việc này. Lắỵ thu phí để miễn phí. Ở các’ nước tỳ lệ thu phỉ miền phí là 6/4. Ở ta có lẽ là 1/5.
Các khâu khác trong công tác bệnh viện cũng phải ì quan tâm : vấn đề người nhà bệnh nhân v.v… Hiện nay sô người nhà bệnh nhân trong bệnh viện quá đông. Vấn đề ăn cho bệnh nhân cũng phải giải; quyết tốt Không để bệnh nhân tự nấu lấy, xoong nổi bếp núc lủng củng. Bệnh nhân phải được phục, vụ ần uổng tại bệnh viện. Nhiều nơi giường bệnh] nhân còn trải chiếu. Tôi đề nghị phải có khăn trải giường trắng cho sạch sẽ. Van đề mặc cho bệnh nhân cũng phải sao cho khỏi nhếch nhác. Thủ tướng Võ Vãn Kiệt cũng nhắc nhở diều này. Nhân viên y tế cũng phải ăn mặc tươm tất, cỏ anh chị em mặc ‘ áo blọuse không trắng mà màu cháo lòng. Một đồng chí chí ủy viên Bộ chỉnh trị cũng nói với tôi điều đó. Thủ tướng cũng nói mặc như thế thì; bệnh nhận: khó mà tin tưởng, thực hiện quy chế tốt sao được và sao mà đảm bậo công tác vô khuẩn. Họ cùng đã . thành lập nhóm đặc nhiệm để chẩn chình! công tác bệnh Viện. Anh Trọng sẽ có ý kiến về vấn đề này.Tiến tới chúng ta sẽ mờ Hội nghị toàn quốc về công tác bệnh viện Viện lao – bệnh phổi là viện có truyền thống do cố Bộ trường Phạm Ngọc Thạch xây dựng và trực tiếp làm Viện trưởng đầu tiên. Tôi mong Viện lao – bệnh phổi làm tốt công tác này. Dự thảo

Continue reading Số giường thu phí cao do bệnh nhân yêu cầu

Lương một bác sĩ học 6 năm ra trường

nghề. Ngành y tế lại còn thấp hơn : lương một bác sĩ học 6 năm ra trường thấp hơn một giáo viên học sư phạm 4 năm ra trường một bậc.Tiền bồi dưỡng cho mọt trường hợp mỏ tim, mô phôi chỉ được 5.000 – 6.000 đồng. Trực bệnh viện 24/24 giờ ở các khoa vất vả, căng thẳng như cấp cứu hôi sức, nhi, sản cũng chỉ được bồi dưỡng ,3.000 đông. Điêu thứ ba về công tác thi đua : để đẩy lui các hiện tượng tiêu cực, phát huy các nhân tô tích cực, người tốt việc tốt xin đấy mạnh công tác thi đua và có điều kiện đế thưởng thi đua. Điều thứ tư là vấn đề thâm niên. Khả năng của người thầy thuốc dựa trên sự tích lũy kinh nghiệm. Do đó việc không có lương thâm niên là một thiệt thòi cho ngành y tê. vệ độ tuổi về hưu của ngành y người xưa có câu “Thầy thuốc già, con hát tre”. Đào tạo một bác,sĩ phải vài chục nam mới thành tài khi ngựời tạ bặt đâu tích lũy được kinh nghiệm thì đã đến tuổi về hưu.,Nêu không tiếp tục sử dụng họ thì là sự lãng phí chất xám, thiệt, thòi cho xã hội. Xin đề nghị ở độ tuổi này có thể để họ thôi công tác quản lý nhưng vân được tiếp tục làm công tác chuyên môn.
BT: kinh phí cho ngành lao động được tăng thêm. Về chế độ trực, sau khi làm việc với Thủ tướng Võ Văn Kiệt và với các ngành hữu quan, mức bồi dưỡng trực sẽ được ;nâng lên là 7.,000 đồng, 5.000 đông và 3.000 đồng, phụ cấp mổ xẻ là tùy mức 15.Ọ00 đồng, 12.000 đồng v.v… Bộ đã có hướng dân vẽ công tác thi đuạ và bình bầu chiến sĩ thi dua ngành 1991 – 1995. về độ tuổi về hựu của cán bộ ngành y tế, tôi đã làm việc với Ban To chức trung ương, với Thù tựớng Chinh phủ và sẽ làm tờ trình lên Thủ tượng đề nghị đối với người có họp hàm học vị có thể làm việc lâu dài nhưng đên 62 tuổi thì phải bàn giao công tác quản lý.
PGS Đỗ Đức Hiển : Một số công thức dùng trong ngành lao là theo cách tính toán của các tác giả nước ngoài. G.S Nguyên Việt Cồ đang cùng chúng tôi triển khai việc điều tra trên thực địa ở Việt Nam để có thể có cách tính phù hợp. Chúng tôi rât mong khi có điêu kiện anh sẽ cùng đi tuỳến.
BT: TÔI cũng muốn dược di tuyển với anh em. Anh cứ cho biết lịch tôi sẽ thu xếp.
PGS Hoàng Minh : viện lao – bệnh phổi íà Viện quốc gia có giường bệnh, có màng lưới .rộng khắp trong toàn quốc xuống ,đến tận xã. Việc đèo tạo cán bộ cho ngành tứ trước tơi nay vẫn do Viện làm. Xin Bộ trướng hỗ trợ cho đề nghị của Viện xin được là một đơn vị có nhiệm vụ đào tạo trên’ đại học. Tôí hoàn toàn ủng hộ đề nghị này. Nhiều Viện về khoa có quy mô cán bộ nhờ tham khảo chúng ta.

Continue reading Lương một bác sĩ học 6 năm ra trường